...:: Diễn đàn Kinh tế - Chứng khoán Việt Nam ::...
Chào mừng bạn đã đến với KinhTe.4ULike!
Xin vui lòng Đăng Nhập hoặc Đăng Ký thành viên để có thể post bài và Download tài liệu.
Thanks!


Domain: www.KinhTe.forumotion.com ::: Or ::: www.DienDanKinhTe.InFo.Ms
 
Trang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómƯớc nguyệnThiệp Điện TửThông Tin NhanhĐọc BáoĐăng kýĐăng Nhập
..:: THONG BAO: Cần tuyển gấp 100 PGs cho Công ty tổ chức sự kiện VS-Event - Liên hệ: 0919.412.184 (MR. CAO DUNG) ::..

Share | 
 

 Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009

Go down 

Bạn có lạc quan vào nền Kinh tế VN năm 2009?
 
 Không
Xem kết quả
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 8
Age : 33
Đến từ : Ho Chi Minh, VietNam
Sở Thích : vvvvvvvvvvvv
Registration date : 13/02/2009

Bài gửiTiêu đề: Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009   17.02.09 19:28

VIT- Tại cuộc họp báo về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12 khác với thông lệ, lần đầu tiên có cùng lúc 6 bộ trưởng lãnh đạo các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế cùng nhìn lại kết quả đạt được sau một năm đầy biến động.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc; Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh; Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp; Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Cả 6 vị bộ trưởng có chung nhận định: Kinh tế Việt Nam năm 2008 có nhiều khó khăn, trải qua nhiều biến động khó lường dẫn tới những kết quả chưa được như mong muốn, nhưng vẫn có những thành công và ấn tượng: GDP không đạt chỉ tiêu, nhưng “đáng nhớ”; Đầu tư, đối ngoại khả quan; Xuất khẩu vượt bậc, kìm được nhập siêu.

Trong lịch sử của nước Việt Nam mới, chưa có bao giời trong một năm mà nước ta phải đối mặt với hai cuộc khủng hoảng như năm 2008. Đó là: Khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép... trên thế giới. Hai vấn đề nóng nhất là lạm phát và nhập siêu vừa được hạ nhiệt, thì cuộc khủng hoảng địa ốc, cho vay dưới chuẩn ở Mỹ được “ủ bệnh” từ hơn một năm trước, bùng phát vào giữa tháng 9, đã lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và lan nhanh sang các khu vực, các nước.

Từ cuối năm 2007, trong giai đoạn chuẩn bị và thông qua kế hoạch kinh tế xã hội năm 2008, đến tháng 3/2008, chính sách kinh tế được chi phối bởi mục tiêu tăng trưởng GDP 9%, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch năm năm sớm (chỉ trong ba năm), vượt ngưỡng nước có thu nhập trung bình ngay trong năm 2008... Mặc dù đã có những cảnh báo sớm từ cuối năm 2007 về chất lượng tăng trưởng thấp, chất lượng cuộc sống của người dân bị giảm sút, song quyết tâm của Chính phủ rõ ràng là phải đạt được những thành tựu ấn tượng, vượt lên trên tất cả các thời kỳ trước đây. Để làm được vấn đề này,

Chính phủ đã dồn dập triển khai các biện pháp và các công trình để đạt các mục tiêu đề ra: việc phân cấp (về nguyên tắc là đúng đắn và cần thiết) quá mức cho chính quyền địa phương cấp tỉnh về đầu tư (trong nước và ngoài nước), việc cấp đất, mở khu công nghiệp... đã tạo ra những chồng chéo và dư thừa đáng lo ngại về quá nhiều công trình đầu tư vào sân golf, bất động sản, nhà máy thép, nhà máy lọc dầu lớn nhỏ. Hệ quả là bên cạnh sự năng động và tăng nhanh về số lượng, các quyết định hàng tỉ Đô la Mỹ ở các địa phương, tập đoàn kinh tế, liên quan đến năng lượng, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực ở tầm kinh tế quốc dân, rất hệ trọng cho quốc kế dân sinh đã được quyết định một cách nhanh chóng, thiếu sự thẩm định cần thiết của các chuyên gia, hội đồng thẩm định có chuyên môn ở các bộ, ngành và thiếu sự tham gia của các tổ chức quần chúng.

Chính vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn cả nước có hơn 200 trường đại học và cao đẳng được thành lập. Tình trạng này đã nhanh chóng làm trầm trọng thêm những mất cân đối về điện, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực... Thêm vào đó, việc mở rộng địa giới Hà Nội - đòi hỏi một lượng vốn đầu tư khổng lồ và năng lực quản lý đô thị rất cao, gây nhiều tranh cãi, cuối cùng cũng được thông qua trong bối cảnh lạm phát cao và nền kinh tế đang đối mặt với nhiều mất cân đối. Các tập đoàn kinh tế nhà nước vốn được lập như là một thí điểm (thiếu khung pháp lý hoàn chỉnh trong một thời gian quá dài) đã tranh thủ sự lỏng lẻo về giám sát và quản lý của các cơ quan nhà nước để đồng loạt đa dạng hóa đầu tư sang các lĩnh vực “thời thượng” như chứng khoán, đầu tư tài chính, bất động sản, thậm chí cả tham gia lập các ngân hàng thương mại. Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn các tập đoàn lại thành lập nhiều công ty con, công ty cháu, công ty liên kết như vậy. Tương tự, các công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán cũng xuất hiện một cách ồ ạt. Trong không khí phấn khích chung đó, cung tín dụng tiếp tục tăng trên 50%, lạm phát tăng vọt lên 25%, nhập siêu vượt quá mức an toàn, thị trường chứng khoán sụt giảm kỷ lục, bong bóng thị trường bất động sản bị vỡ: Đầu năm thì nóng, nhưng cuối năm thì lại đóng băng. Bắt đầu từ quí 3/2008, các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu đã xuất hiện. Giá hàng loạt nguyên vật liệu trên thế giới giảm mạnh khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm dần và chỉ số giá của hai tháng 10 và 11 lần lượt giảm thấp hơn tháng trước. Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạch lẫn khối lượng, đối mặt với những khó khăn dồn dập từ các nước nhập khẩu (về tín dụng, khả năng thanh toán, sức mua, giảm giá). Nhiều doanh nghiệp đã phải giãn thợ, giảm công suất, thu nhập của người lao động càng khó khăn hơn.

Trong năm 2008, Việt Nam đã phải hai lần chuyển đổi mục tiêu ưu tiên với các nhóm giải pháp phù hợp. Hai cú sốc lớn đưa nước ta đối mặt với nguy cơ lạm phát trì trệ (stagflation). Cuộc khủng hoảng thứ nhất, đó là cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép... trên thế giới. Có người cho rằng, có dầu thô xuất khẩu, có lương thực xuất khẩu, thì Việt Nam sẽ có lợi trong cuộc khủng hoảng trên thế giới này, chứ đâu bị tác động tiêu cực? Mặc dù Việt Nam xuất khẩu dầu thô, nhưng lại nhập khẩu xăng dầu với kim ngạch lớn; còn giá lương thực thế giới tăng sẽ kéo giá lương thực ở trong nước lên theo. Điều quan trọng là mức lạm phát của Việt Nam cao hơn còn do những yếu tố ở trong nước cộng hưởng với cuộc khủng hoảng trên thế giới. Yếu tố ở trong nước xuất phát từ việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng cao (còn gọi là tăng trưởng nóng), kéo theo việc gia tăng tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng dư nợ tín dụng, làm cho các tốc độ này cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP. Thông thường, hệ số giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán so với tốc độ tăng GDP của các nước vào khoảng dưới 2,5 lần, nhưng của Việt Nam đã liên tục cao hơn: bình quân 2004 - 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 30,3%/năm, còn tốc độ tăng GDP là 8,23%/năm, hệ số giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP lên đến khoảng 3,7 lần, cao gấp rưỡi các nước; riêng năm 2007 còn cao hơn nhiều. Trong khi đó, lãi suất cho vay thấp, lượng tiền đổ vào thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cao. Tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn đầu tư đóng góp chiếm tới 57,5%, do yếu tố số lượng lao động tăng đóng góp 20%, do yếu tố tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả đầu tư, năng suất lao động...) chỉ đóng góp 22,5%.

Hiệu quả đầu tư biểu hiện tổng hợp ở hệ số ICOR. ICOR tính theo tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GDP, so với tốc độ tăng GDP đã giảm trong mấy năm trước kia thì mấy năm nay lại tăng lên và cao hơn nhiều nước (năm 2005 là 4,85 lần, năm 2006 là 5,04 lần, năm 2007 là 5,38 lần, khả năng năm 2008 có thể còn lên tới 5,9 lần). ICOR cao và tăng có nghĩa là hiệu quả đầu tư thấp và giảm. Chính những yếu tố đó ở trong nước, cộng hưởng với lạm phát thế giới đã làm cho lạm phát ở nước ta cao trong năm 2007 (cả năm là 12,63%- tức là bình quân 1 tháng là 1%, riêng 2 tháng cuối năm lên tới 2,07%/tháng), đã bùng phát vào các tháng đầu năm 2008 (6 tháng đầu năm 2008 tăng tới 2,86%/tháng).

Cùng một lúc với lạm phát, Việt Nam còn bị nhập siêu cao. Nhập siêu cao trong năm 2007 (cả năm nhập siêu 14,12 tỷ USD, bình quân 1 tháng là 1 tỷ USD, riêng 2 tháng cuối năm còn lớn hơn nhiều), bùng phát vào 5 tháng đầu năm 2008 (bình quân 2.695 triệu USD/tháng). Đứng trước tình hình trên, có tổ chức và chuyên gia quốc tế đã cảnh báo Việt Nam cả năm lạm phát có thể vượt qua mốc 30% và nhập siêu có thể vượt qua mốc 30 tỷ USD, từ đó khuyến cáo Việt Nam phá giá đồng nội tệ 20- 25% và cầu cứu IMF hỗ trợ. Nhưng thực tế đã không đến mức như vậy mà từ tháng 6, tháng 7, lạm phát và nhập siêu, hai vấn đề nóng nhất đã được hạ nhiệt. Lạm phát từ tháng 7 đến tháng 11 chỉ còn 0,38%/tháng, thấp hơn nhiều so với 6 tháng đầu năm, thấp hơn cả tốc độ tăng bình quân 1 tháng của cùng kỳ năm trước (0,79%), thấp hơn lãi suất tiết kiệm (tức là lãi suất đã thực dương). Nhập siêu từ tháng 6 đến tháng 11 chỉ còn ở mức dưới 1 tỷ USD (bình quân 1 tháng còn 529 triệu USD).

Cuộc khủng hoảng thứ nhất vừa tạm được khống chế thì cuộc khủng hoảng thứ hai lại ập đến. Hai vấn đề nóng nhất là lạm phát và nhập siêu vừa được hạ nhiệt, thì cuộc khủng hoảng địa ốc, cho vay dưới chuẩn ở Mỹ được “ủ bệnh” từ hơn một năm trước, bùng phát vào giữa tháng 9, đã lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và lan nhanh sang các khu vực, các nước. Một nền kinh tế mà tăng trưởng dựa tới gần 60% vào vốn đầu tư, có định hướng xuất khẩu (xuất khẩu so với GDP lên tới 70%), vừa mới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được 2 năm, lại vừa trải qua lạm phát, nhập siêu cao..., nên cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động đến Việt Nam, tuy có chậm hơn một số nước (do độ mở cửa về tài chính chưa rộng, đồng tiền chưa chuyển đổi, do có sự chủ động ứng phó...), nhưng cũng rất lớn và khá rộng.

Xuất khẩu có tình trạng tháng sau thấp hơn tháng trước từ tháng 8 đến nay. Tăng trưởng công nghiệp từ tháng 7 đến nay bị sụt giảm. Lượng khách quốc tế từ tháng 9 tới nay cũng tháng sau thấp hơn tháng trước và chi tiêu bình quân một lượt khách cũng có xu hướng ít đi. Vốn đầu tư gián tiếp đang ra nhiều hơn vào, chỉ số chứng khoán xuyên thủng hết đáy này sang đáy khác, trở về điểm xuất phát cách đây 3- 4 năm. Nguy cơ suy giảm kinh tế đã xuất hiện. Tình hình nào thì mục tiêu ấy và giải pháp ấy. Một lần nữa trong năm nay, Chính phủ phải chuyển đổi mục tiêu ưu tiên, từ ưu tiên kiềm chế lạm phát, với giải pháp hàng đầu là thắt chặt tiền tệ, sang ưu tiên ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, với gói 5 giải pháp cấp bách, trong đó kích cầu ngày càng trở thành giải pháp nổi bật và gói giải pháp tài chính đang được bàn thảo nhiều nhất.

Gói giải pháp tài chính kích cầu không chỉ giới hạn 1 tỷ USD như đã công bố trước đây. Nếu tổng hợp từ các nguồn - được gọi là gói kích cầu tài chính tổng thể - có thể lên đến 6 tỷ USD, tức là lên gần 110 nghìn tỷ đồng (bao gồm 17 nghìn tỷ đồng đã công bố lấy từ dự trữ nhà nước - chứ không phải lấy từ khoảng 22 tỷ USD dự trữ ngoại tệ; 20 nghìn tỷ đồng Chính phủ tạm ứng từ năm trước chưa tiêu hết; 20 nghìn tỷ đồng từ cắt giảm thuế cho doanh nghiệp mà Chính phủ chưa thu về; 30 nghìn tỷ đồng từ việc bảo lãnh vay quốc tế); 20 nghìn tỷ đồng từ phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ.

Về mức tuyệt đối, tuy còn thấp xa so với các nền kinh tế lớn, nhưng lại thuộc loại cao nếu so với nguồn lực của đất nước. Nếu so với GDP tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm nay của Việt Nam (khoảng 88,5 tỷ USD), thì gói tài chính trên đã chiếm khoảng 6,8%; nếu so với mức dự trữ ngoại hối (khoảng trên 22 tỷ USD), thì đã chiếm khoảng 26%. Đây là một cố gắng lớn của Chính phủ trong điều kiện ngân sách còn bội chi lớn, mức dự trữ ngoại hối của quốc gia còn mỏng. Đây không chỉ là sự nhạy bén trong việc dự đoán tình hình, chuyển hướng mục tiêu ưu tiên với giải pháp và có liều lượng cao chưa từng có, thể hiện quyết tâm cao trong việc ngăn chặn nguy cơ suy giảm kinh tế của nước ta
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://kinhte.forumvi.net
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 8
Age : 33
Đến từ : Ho Chi Minh, VietNam
Sở Thích : vvvvvvvvvvvv
Registration date : 13/02/2009

Bài gửiTiêu đề: Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009   17.02.09 19:59

VIT- Triển vọng kinh tế năm 2009 của Việt Nam còn khó khăn hơn năm 2008. Các khó khăn kinh tế sẽ chuyển thành các vấn nạn xã hội, vấn đề duy trì việc làm, thu nhập cho người lao động sẽ trở thành nhiệm vụ hàng đầu.


(Tiếp theo và hết)
Mặc dù vào thời điểm cuối năm 2008, Chính phủ đã quyết định đầu tư kích cầu, nên nền kinh tế nước ta được đánh giá là “hạ cánh an toàn”, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước đạt bình quân 1.027 đến 1.030 USD/người/năm, cao hơn mức của các nền kinh tế có thu nhập trung bình. Việc rút ra các bài học một cách nghiêm túc từ tư tưởng chỉ đạo đến các chính sách kinh tế là rất cần thiết để vượt qua những khó khăn gấp bội trong khi lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã suy giảm rất nhiều.


Ngày 18/12/2008, đại diện Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) tại nước ta đưa ra dự báo về kinh tế Việt Nam 2009, như sau: Tăng trưởng sẽ giảm xuống 5%, lạm phát sẽ xuống mức một con số, thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại sẽ giảm… Đối mặt thử thách. Rủi ro chuyển từ lạm phát sang tăng trưởng

IMF nhận định: Sau một vài năm phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với một số thử thách. Sau khi phát triển nhanh năm 2007, đà tăng trưởng đã giảm xuống trong năm 2008 vì Chính phủ phải ổn định nền kinh tế đang quá nóng. Trong khi Chính phủ đã đạt được những tiến bộ rất đáng ca ngợi trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, thì Việt Nam gần đây bắt đầu gặp phải ảnh hưởng xấu từ sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đang giảm, phản ánh sự đi xuống của các nền kinh tế của những đối tác thương mại chính. Kiều hối và đầu tư trực tiếp nước ngoài, hai nguồn chính của hoạt động kinh tế năm 2007, cũng đang giảm xuống từ mức cao do sự suy giảm của các điều kiện kinh tế toàn cầu. Những thách thức bên ngoài này kết hợp với những thách thức bên trong bắt nguồn từ thâm hụt lớn của cán cân vãng lai cũng như những điểm yếu trong lĩnh vực ngân hàng và doanh nghiệp làm tình hình khó khăn hơn.

IMF đã có những đánh giá sơ bộ về triển vọng kinh tế Việt Nam với ba dự báo chính: Thứ nhất, do môi trường kinh tế toàn cầu đang xấu đi, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế giảm từ 8,5% trong năm 2007 xuống 6,25% trong năm 2008 và sẽ giảm hơn nữa xuống còn 5% trong năm 2009. Thứ hai, với giá các mặt hàng sơ chế đang giảm, lạm phát chung được dự báo là sẽ giảm xuống mức một con số vào cuối năm 2009, mặc dù lạm phát cơ bản (không bao gồm thực phẩm thô và năng lượng) có thể giảm chậm hơn. Thứ ba, thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại dự kiến sẽ giảm với việc nhập khẩu giảm nhiều hơn so với giảm xuất khẩu và kiều hối, nhưng vẫn giữ ở mức cao (9% của GDP) trong năm 2009 và vẫn còn là nguyên nhân của tính dễ bị tổn thương vì dự trữ quốc tế của Việt Nam tương đối thấp (3 tháng nhập khẩu).

Với triển vọng về tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ suy giảm hơn nữa trong những tuần đầu năm 2009. Một sự suy giảm của kinh tế toàn cầu kéo dài và sâu sắc hơn có thể có ảnh hưởng đến xuất khẩu và kiều hối và từ đó tác động đến hoạt động kinh tế và cán cân thanh toán. Những áp lực này có thể sẽ trầm trọng hơn nếu những điều kiện tài chính toàn cầu đang xấu đi làm giảm nữa đầu tư trực tiếp và các luồng vốn bên ngoài khác. Và cuối cùng, những hoạt động kinh tế chậm lại làm tăng thêm tính dễ bị tổn thương của các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Về kết quả của chương trình làm việc, phái đoàn IMF cho biết, những cuộc thảo luận về chính sách tập trung vào việc làm thế nào để chèo lái tốt nhất nền kinh tế Việt Nam vượt qua sự suy giảm kinh tế toàn cầu một cách an toàn. Có một nhất trí chung qua chương trình làm việc nói trên là cán cân rủi ro hiện đã chuyển từ lạm phát sang tăng trưởng và điều này đưa đến việc Chính phủ Việt Nam đã đối phó bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa.

Tuy nhiên, vị thế đối ngoại của Việt Nam không được mạnh như các nước khác trong khu vực và điều đó làm hạn chế khả năng của Chính phủ trong việc theo đuổi các chính sách nới lỏng. Dù cho một biện pháp kích cầu nào đó có thể có lý nếu triển vọng kinh tế vẫn tiếp tục suy giảm, thì gói kích cầu này sẽ cần được tính toán kỹ và đưa ra những ưu tiên để bảo vệ những nhóm dễ bị tổn thương. Hơn nữa, những căng thẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tăng lên trong năm 2008 và có thể sẽ tăng hơn nữa trong năm 2009, do hoạt động kinh tế chậm lại. Trong khi vốn và trích lập dự phòng được tăng trong hai năm qua đã tạo ra một chỗ đệm đáng kể, đặc biệt là với những ngân hàng cổ phần lớn, thì vị thế tài chính của các ngân hàng rất có thể sẽ yếu đi trong năm 2009.

IMF đưa ra khuyến nghị: Các nhà chức trách Việt Nam phải chuẩn bị đối phó với những điểm dễ bị tổn thương đang gia tăng. Về vấn đề này, phái đoàn khích lệ những bước đi mà Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện để tăng cường giám sát hệ thống ngân hàng. Về trung hạn, quan điểm được đưa ra trong thông báo này là triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2009 vẫn có thuận lợi, miễn là Chính phủ vẫn duy trì các chính sách lành mạnh và tiếp tục cải cách để tăng tính cạnh tranh của Việt Nam. Việc giữ vững đà cải cách trong giai đoạn khó khăn này là "rất quan trọng" để củng cố niềm tin của nhà đầu tư và giúp Việt Nam có vị thế tốt khi kinh tế thế giới thoát khỏi suy yếu.

Đây là nhận định của IMF, còn đối với các chuyên gia trong nước thì, mục tiêu mà Quốc hội đặt ra cho tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam trong năm 2009 là 6,5%. Nếu mục tiêu này thành hiện thực, thì tăng trưởng kinh tế năm 2009 được duy trì so với năm 2008, sau khi đã giảm khoảng 2% so với năm 2007 (khoảng 6,5% so với 8,5%). Đây là mục tiêu quá lạc quan và nếu vẫn đạt được thì đó là sự kỳ diệu và có thể phải trả giá đắt.

Ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đưa ra ba kịch bản có thể xảy ra của nền kinh tế năm 2009. Thứ nhất, mức tăng trưởng 6,5% trở nên xa vời khi mà mốc 6% đã là một kịch bản lạc quan. Đây là kịch bản khó đạt được, cũng có thể đạt được nhưng chưa chắc đã cần phải trả giá để đạt được. Thứ hai, là tăng trưởng sẽ đạt khoảng 5%, lạm phát ở dưới mức 10%, có thể khoảng 6% - 8%. Với kịch bản này, nền kinh tế có thể chỉ tăng trưởng ở mức tương tự sau năm 2009, nhưng những cơ sở cho sự tăng trưởng nhanh và bền vững hơn được củng cố để có bước bứt phá từ năm 2011. Việt Nam nên theo đuổi kịch bản này. Tăng trưởng khoảng 5%, giữ lạm phát khoảng 6% - 8%, nếu được 6% là tốt, để ổn định vĩ mô tốt hơn và tập trung nguồn lực gia cố những nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững mà lâu nay nước ta chưa gia cố được. Đừng có vì tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn mà phải trả giá đắt để rồi cứ ì ạch như vậy mà không thể cất cánh. Ngoài ra còn kịch bản thứ ba, (một kịch bản xấu) mà Việt Nam phải lường tính trước nếu Chính phủ không có những chính sách khôn ngoan. Cụ thể, với kịch bản này thì tăng trưởng kinh tế năm 2009 chỉ đạt khoảng 4%, trong khi lạm phát lên hơn10% và nền kinh tế đình đốn kéo dài.

Nếu kịch bản thứ ba xảy ra, thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với mức lạm phát khoảng 10% trở lên và kéo theo những bất ổn vĩ mô khó có thể khắc phục. Hệ quả là nền kinh tế khó có thể có được bước đột phá trong những năm tới.

Còn theo kết quả tổng hợp của TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc phụ trách nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, trong các báo cáo của các tổ chức quốc tế về tăng trưởng kinh tế kinh tế Việt Nam năm 2009 chỉ có duy nhất một tổ chức có cùng dự báo 6,5% là Ngân hàng Thế giới (WB); còn lại hầu hết cao nhất là 5,2%, thậm chí có những dự báo bi quan.
Cụ thể, trong báo cáo mới đây, IMF dự báo ở mức 5%, tương tự như mức dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và BMI. Cao hơn là Tập đoàn Citigroup đưa ra dự báo 5,2%. Các tổ chức khác như Economist Intelligence Unit, Deutsche Bank, CLSA lần lượt là 4,3%, 4,1% và 2,6%.

Mặc dù, kinh nghiệm cho thấy các tổ chức quốc tế thường đánh giá sai, chưa chắc đã đúng và cần phải xem xét lại. Tuy nhiên, khi tất cả các dự báo đều cùng chỉ một hướng thì chúng ta phải thực sự ngồi lại để xem tại sao lại như vậy. Nếu như chỉ là một hoặc hai báo cáo nói tăng trưởng của Việt Nam thấp thì không quá lo ngại, nhưng khi một loạt tổ chức quốc tế và trong nước đều đưa ra dự báo mức tăng trưởng thấp hơn 6,5% thì cũng cần phải suy nghĩ... Nhất là, với những diễn biến của nền kinh tế trong năm 2008, nhất là thời điểm những ngày cuối cùng của năm khi giá vàng trong nước đạt đỉnh 18.000.000 đồng/chỉ, và theo dự đoán trong năm 2009, đồng USD không chỉ dừng lại ở mức 17 đến 18 triệu Việt Nam đồng/100 USD nữa mà rất có thể lên tới 30 đến 40 triệu Việt Nam đồng/100 USD. Khi đó, nền kinh tế nước ta sẽ lâm vào tình trạng suy thoái chung của nền kinh tế thế giới. Hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản. Không ít doanh nghiệp lớn bị đình đốn sản xuất, kinh doanh; người lao động mất việc làm…Nếu chuyện này xảy ra, thì việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 đạt được 5 - 6% đã là một kỳ tích. Để ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, ngay từ bây giớ, chính sách kiềm chế lạm phát không còn là mục tiêu ưu tiên nữa; thay vào đó Chính phủ cần phải chuyển hướng ưu tiên ngăn chặn sự cộng hưởng giữa suy giảm kinh tế trong nước với những tác động xấu của khủng hoảng kinh tế thế giới, củng cố các yếu tố cần cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai./.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://kinhte.forumvi.net
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 8
Age : 33
Đến từ : Ho Chi Minh, VietNam
Sở Thích : vvvvvvvvvvvv
Registration date : 13/02/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009   17.02.09 20:03

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://kinhte.forumvi.net
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009   

Về Đầu Trang Go down
 
Nhìn lại Kinh tế Việt Nam 2008 & triển vọng năm 2009
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Đậu Hũ Bắc Kinh
» Truyện kinh dị của Stine
» Vịt quay Bắc Kinh và lá bánh ngô
» Những điều vô lý 'kinh điển' trong phim kiếm hiệp
» Những câu nói dối 'kinh điển' của đàn ông khi yêu

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
...:: Diễn đàn Kinh tế - Chứng khoán Việt Nam ::... :: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ :: Thông Tin Kinh Tế-
Chuyển đến